user

ĐÁNH GIÁ SỰ TOÀN VẸN TÚI FABRICIUS & HIỆU GIÁ KHÁNG THỂ PHÒNG BỆNH GUMBORO & NEWCASTLE SAU KHI TIÊM VACCINE VÉC-TƠ VAXXITEK TRÊN GÀ THỊT THƯƠNG PHẨM

ĐẶT VẤN ĐỀ - MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trong các bệnh truyền nhiễm phổ biến trên gà, Gumboro (IBD) và Newcastle (ND) luôn là vấn đề được quan tâm bởi sự ảnh hưởng trầm trọng đến hiệu quả chăn nuôi.

Tại Việt Nam, hiện nay có các dòng vaccine phòng bệnh IBD bao gồm vaccine sống nhược độc và vaccine bất hoạt. Theo khuyến cáo từ nhà sản xuất vaccine véc-tơ Vaxxitek (Boehringer Ingelheim Animal Health), vaccine Vaxxitek là một vaccine tổ hợp phòng 3 bệnh bao gồm Marek (HVT), Gumboro (IBD) và Newcastle (ND).  Đây là dòng vaccine công nghệ véc-tơ tiêm cho gà một ngày tuổi tại nhà máy ấp nhằm bảo vệ gà tránh khỏi các bệnh nói trên từ rất sớm. Việc tiêm phòng vaccine hầu như không bị ảnh hưởng bất lợi của kháng thể mẹ truyền (MDA), túi Fabricius không bị tổn thương, tạo đáp ứng miễn dịch sớm và kéo dài vẫn là điều cần thiết trong việc phòng bệnh Gumboro và Newcastle. Để có phương án bổ sung và khắc phục nhược điểm của vaccine sống nhược độc phòng bệnh IBD dễ bị ảnh hưởng bởi kháng thể mẹ truyền (Boudaoud & cs., 2016) và làm tổn thương túi Fabricius (WOAH 2024) và tái chủng nhiều lần. 

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm (1) Đánh giá tỷ lệ trọng lượng túi Fabricius, ghi nhận điểm tổn thương của túi Fabricius qua vi thể học; (2) Đánh giá hiệu giá kháng thể (HGKT) kháng IBD và ND khi chủng vaccine véc-tơ Vaxxitek trên gà thịt thương phẩm.

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trại gà thịt thương phẩm giống Ross với quy mô 260.300 con tại địa bàn Tây Ninh, chia thành 10 dãy chuồng, mỗi dãy chuồng nuôi từ 25.000 đến 26.000 con. Gà ở các dãy chuồng có cùng nguồn gốc giống và được nuôi dưỡng, chăm sóc trong điều kiện chuồng kín có kiểm soát các yếu tố tiểu khí hậu chuồng nuôi tương tự nhau. Thí nghiệm chia thành 02 nhóm: Nhóm Vaxxitek: sử dụng vaccine Vaxxitek lúc 1 ngày tuổi và vaccine sống dòng trung bình cộng lúc 16 ngày tuổi (gồm 4 dãy chuồng chia đều trống mái) và nhóm sử dụng vaccine vô hoạt phòng bệnh Newcastle lúc 1 ngày tuổi và vaccine sống dòng trung bình cộng lúc 16 và 19 ngày tuổi (gồm 6 dãy chuồng chia đều trống mái), được gọi là nhóm đối chứng. Cả hai nhóm đều chủng vaccine Avinew Neo lúc 1 ngày tuổi và 13 ngày tuổi. 

Đánh giá tỷ lệ trọng lượng túi Fabricius (BI) và điểm tổn thương của túi Fabricius qua vi thể học

Ở mỗi nhóm thí nghiệm, gà được mổ và thu túi Fabricius tại 3 thời điểm: 21 ngày tuổi (10 gà); 28 ngày tuổi (20 gà) và và 35 ngày tuổi (10 gà). Tổng cộng 80 gà được mổ để thu túi Fabricius cho toàn thí nghiệm. Tiến hành đánh giá đại thể, kích thước, cân đồng thời túi Fabricius và trọng lượng gà để tính chỉ số BI. Chỉ số BI được đo lường như sau: BI = trọng lượng túi Fabricius / trọng lượng cơ thể × 100 (Sellaoui & cs., 2012). Cắt 1 cm2 mô túi F được cố định trong dung dịch formaline 10% và cắt nhuộm HE nhằm đánh giá điểm tổn thương của các mô túi Fabricius qua vi thể học. Điểm tổn thương của túi Fabricius được đánh giá theo 6 thang điểm từ 0-6. Trong đó, điểm 0 = không có bệnh tích đặc trưng; điểm 1 = suy giảm lympho mức độ nhẹ; điểm 2 = suy giảm lympho mức độ trung bình; điểm 3 = suy giảm lympho mức độ trung bình đến nặng; điểm 4 = suy giảm lympho mức độ nặng; điểm 5 = suy giảm lympho mức độ rất nặng (Muskett & cs., 1979).

Kiểm tra HGKT kháng vi-rút IBD và ND ở các giai đoạn tuổi 

Ở mỗi nhóm thí nghiệm, tại các thời điểm 1, 7, 14, 21, 28 và 35 ngày tuổi lấy 40 mẫu máu/thời điểm (lựa chọn ngẫu nhiên 20 mái và 20 trống), tổng cộng có 480 mẫu. Các mẫu máu được để đông tự nhiên và ly trích huyết thanh để kiểm tra HGKT kháng vi-rút IBD và ND. Đối với HGKT kháng vi-rút IBD, bộ kit thương mại ELISA ID Screen® IBD VP2 được dùng phát hiện protein tái tổ hợp VP2 của vi-rút IBD và bộ kit thương mại ELISA BIOCHEK IBD Ab test được dùng để phát hiện kháng thể kháng vi-rút IBD. Đối với HGKT kháng vi-rút ND, bộ kit thương mại ELISA ID Screen® Newcastle Disease được dùng để phát hiện protein F của vi-rút ND và bộ kit thương mại ELISA BIOCHEK ND Ab Test được dùng để phát hiện kháng thể kháng vi-rút ND. Quy trình thực hiện phương pháp ELISA theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được xử lý thống kê bằng Minitab 22. Trắc nghiệm t được dùng để so sánh trung bình HGKT, trung bình tỷ lệ trọng lượng túi Fabricius, trung bình điểm bệnh tích tổn thương vi thể học giữa hai nhóm thí nghiệm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi P < 0,05

KẾT QUẢ

Tỷ lệ trọng lượng túi Fabricius (BI) và điểm tổn thương túi Fabricius qua vi thể học

Kết quả BI cho thấy tỷ lệ trọng lượng túi Fabricius ở nhóm Vaxxitek có xu hướng lớn hơn ở nhóm đối chứng từ giai đoạn 28-35 ngày tuổi. Tuy nhiên, chưa có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm.

Kết quả vi thể học, phần lớn các mẫu mô túi Fabricius ở nhóm Vaxxitek được ghi nhận không có bệnh tích đặc trưng (điểm 0), một vài mẫu được ghi nhận có suy giảm lympho ở mức độ nhẹ (điểm 1), chỉ có 2/40 mẫu thể hiện bệnh tích suy giảm lympho mức độ trung bình đến nặng (điểm 2). Ở nhóm đối chứng, 9/40 mẫu có dấu hiệu tổn thương lympho mức độ trung bình trở lên (điểm 2), trong đó có 2 mẫu thể hiện suy giảm lympho mức độ nặng (điểm 3). Nhìn chung, sự suy giảm mô lympho của túi Fabricius có xu hướng ít xảy ra ở nhóm Vaxxitek hơn ở nhóm đối chứng. Tuy nhiên, điểm tổn thương các mô lympho chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm thí nghiệm.

                  Hình 1. Hình ảnh vi thể học túi Fabricius theo các mức độ tổn thương

HGKT kháng vi-rút IBD và ND qua các giai đoạn tuổi

1. HGKT kháng vi-rút IBD 

a) HGKT kháng protein VP2 của vi-rút IBD 

Kết quả trung bình HGKT gắn với protein VP2 vi-rút IBD cho thấy; tại thời điểm 0 ngày tuổi, HGKT ở cả hai nhóm thí nghiệm tương đối đồng đều, dao động từ 11.636 đến 14.647 ở nhóm chủng vaccine Vaxxitek (Mean: 13.082,8; CV: 4,5%) và từ 11.670 đến 14263 (Mean: 13.136,1; CV: 4,4%) ở nhóm đối chứng. Kháng thể IBD ở hai nhóm được xác định không có sự khác biệt đáng kể (P = 0,698), điều này cho thấy MDA ở hai nhóm đồng đều. 

HGKT MDA giảm dần ở thời điểm 7 ngày tuổi và tiếp tục giảm xuống ở thời điểm 14 ngày tuổi, dao động từ 79 đến 9487 (Mean: 3.773; CV: 49,7%) ở nhóm chủng vaccine Vaxxitek và từ 1.172 đến 9.153 (Mean: 4.778, CV: 39,7%) ở nhóm đối chứng. HGKT ở nhóm đối chứng cao hơn ở nhóm chủng vaccine Vaxxitek (P = 0,025). 

Ở giai đoạn 28 ngày tuổi và 35 ngày tuổi, HGKT ở nhóm chủng vaccine Vaxxitek lần lượt dao động từ 17 đến .2846 (Mean = 554,3; CV = 112.8%) và từ 12 đến 6.461 (Mean = 1.355; CV = 119,8%). Trong khi đó, HGKT ở nhóm đối chứng lần lượt tại thời điểm 28 ngày tuổi dao động từ 3 đến 1840 (Mean =187.5; CV = 137.7%) và tại thời điểm 35 ngày tuổi dao động từ 0 đến 2839 (Mean = 336; CV = 151,2%).  Kháng thể kháng protein VP2 vi-rút IBD ở nhóm Vaxxitek cao hơn so với nhóm đối chứng ở cả hai giai đoạn 28 và 35 ngày tuổi (P = 0,001). Trong khi đó nhóm chủng vaccine Vaxxitek chỉ tiêm 1 mũi vaccine sống trung bình cộng; tuy nhiên chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P= 0,117).

Ở giai đoạn 28 và 35 ngày tuổi, phần lớn các mẫu ở nhóm chủng vaccine Vaxxitek có HGKT cao hơn ngưỡng dương tính (1002 titer) (26,3%) trong khi chỉ 7.5% số mẫu ở nhóm đối chứng trên ngưỡng này. Chỉ số CV% ở nhóm chủng vaccine Vaxxitek cũng thấp hơn so với nhóm đối chứng, điều này cho thấy HGKT ở nhóm chủng vaccine Vaxxitek có sự đồng đều hơn ở nhóm đối chứng.

b) HGKT kháng vi-rút IBD

Kết quả trung bình HGKT kháng vi-rút IBD cho thấy: Tại thời điểm 1 ngày tuổi, HGKT MDA ở cả hai nhóm thí nghiệm không đều, dao động từ 10.217 đến 15342 ở nhóm chủng vaccine Vaxxitek (Mean: 13.205; CV: 10,9%) và từ 8.353 đến 14.495 (Mean: 11930; CV: 9%) ở nhóm đối chứng (P = 0,000).

HGKT MDA ở cả hai nhóm giảm dần ở giai đoạn từ 7 ngày tuổi đến 28 ngày tuổi (Hình 2).  Lúc 35 ngày tuổi, HGKT kháng vi-rút IBD tăng lên, ở nhóm đối chứng (Mean: 2.635; CV: 160,4%) có xu hướng cao hơn ở nhóm chủng vaccine Vaxxitek (Mean: 1.407; CV: 107,5%. Điều này có thể được giải thích bởi nhóm đối chứng được tiêm hai mũi vaccine sống trung bình cộng lúc 16 và 19 ngày tuổi.

Hình 2. Trung bình HGKT kháng vi-rút IBD của hai nhóm thí nghiệm qua các giai đoạn tuổi

2. HGKT kháng vi-rút ND

a) HGKT kháng protein F của vi-rút ND

Đối với HGKT kháng protein F của vi-rút ND. HGKT MDA giai đoạn tuần tuổi đầu tiên ở hai nhóm có sự không đồng đều (P=0,000) và giảm dần ở tuần tuổi tiếp theo. Lúc 28 ngày tuổi, HGKT đều tăng cao ở cả hai nhóm thí nghiệm. HGKT ở nhóm chủng vaccine Vaxxitek (Mean: 6.808; CV%: 45,5%) cao hơn so với nhóm đối chứng (Mean: 5.045; CV%: 74,6) (P=0,028). Tương tự; tại thời điểm 35 ngày tuổi, HGKT ở cả hai nhóm tiếp tục tăng, HGKT ở nhóm chủng vaccine Vaxxitek (Mean: 7.358; CV%: 37,9%) cao hơn so với nhóm đối chứng (Mean: 5.812; CV%: 59,9) (P=0,030).

b) HGKT kháng vi-rút ND

Đối với HGKT kháng vi-rút ND, MDA giai đoạn tuần tuổi đầu tiên ở hai nhóm tương đối đồng đều và liên tục giảm xuống rõ rệt ở thời điểm 14 và 21 ngày tuổi (Hình 3). Ở nhóm Vaxxitek, HGKT kháng vi-rút ND bắt đầu tăng lên liên tục từ 28 ngày tuổi (Mean: 755; CV%: 100,3%) đến 35 ngày tuổi (Mean: 1.433; CV%: 95,2). Trong khi đó; ở nhóm đối chứng, HGKT tăng lên ở thời điểm 28 ngày tuổi (Mean: 3.050; CV%: 113,9) nhưng lại có xu hướng giảm xuống ở thời điểm 35 ngày tuổi (Mean: 2.713; CV%: 94,6). Nhìn chung, trung bình HGKT ở nhóm đối chứng cao hơn ở nhóm Vaxxitek (P = 0,010).

Hình 3. Trung bình HGKT kháng vi-rút ND của hai nhóm thí nghiệm qua các giai đoạn tuổi

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy sau khi chủng vaccine Vaxxitek® HVT+IBD+ND, tỷ lệ trong lượng túi Fabricius và cấu trúc các mô lympho túi Fabricius ít bị suy giảm và ít tổn thương (chỉ ở mức 0 đến 1 điểm), điều nay cho thấy lợi ích của Vaxxitek® HVT+IBD+ND trong việc bảo toàn cơ quan lympho, từ đó góp phần hình thành nền tảng miễn dịch giúp gà chống lại các bệnh khác. Các kết quả so sánh chưa có ý nghĩa về mặt thống kê, cần lặp lại thí nghiệm trên số lượng mẫu lớn hơn để có kết luận chính xác hơn.

Về mặt huyết thanh học, HGKT kháng protein VP2 vi-rút IBD và kháng protein F vi-rút ND được tạo ra có tính tương đồng. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Berg, T. P. V. D. (2000). Acute infectious bursal disease in poultry: A review. Avian Pathology, 29(3),175–194. https://doi.org/10.1080/03079450050045431

2. Boudaoud, A., Mamache, B., Tombari, W., & Ghram, A. (2016). Virus mutations and their impact on vaccination against infectious bursal disease (Gumboro disease). Revue scientifique et technique (International Office of Epizootics) 35(3), 875-897. https://doi.org/10.20506/rst.35.3.2576.

3. Muskett, J., Hopkins, I., Edwards, K., & Thornton, D. (1979). Comparison of two infectious bursal disease vaccine strains: efficacy and potential hazards in susceptible and maternally immune birds. The
Veterinary Record 104(15), 332-334

4. Quach, T. A., Le, T. H., Nguyen, M. H., & Le, T. T. A. (2018). Field assessment of the efficacy of M.B., LIBDV and Winterfield 2512 strain vaccines against infectious bursal disease in chickens. The journal of Agriculture and Development., 17(6), Article 6.
https://doi.org/10.52997/jad.3.06.2018.

5. Spackman E., Stephens C.B. & Pantin-Jackwood M.J. (2018). The Effect of Infectious Bursal Disease Virus-Induced Immunosuppression on Vaccination Against Highly Pathogenic Avian Influenza Virus. Avian Diseases. 62(1): 36-44. doi.org/10.1637/11769-110717-Reg.1

6. Sellaoui, S., Alloui, N., Mehenaoui, S., & Djaaba, S. (2012). Evaluation of size and lesion scores of bursa
cloacae in broiler flocks in Algeria. Journal of World’s Poultry Research 2(3), 37-39.

7. WOAH Terrestrial Manual (2024). Chapter 3.3.12. Infectious bursal disease (Gumboro disease)