Vaxxitek® HVT+IBD+ILT là vaccine vector tam giá đầu tiên của Boehringer Ingelheim Animal Health (BIAH), được ra mắt lần đầu tại Hoa Kỳ năm 2020. Sản phẩm kế thừa nền tảng công nghệ từ Vaxxitek HVT+IBD (2006) và Vaxxitek HVT+IBD+ND (2019), sản phẩm đánh dấu bước đột phá công nghệ khi phòng ngừa đồng thời ba bệnh nguy hiểm và gây tổn thất kinh tế lớn là Marek (MD), Gumboro (IBD) và Viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT) chỉ với một mũi tiêm duy nhất tại nhà máy ấp. Vaxxitek® HVT+IBD+ILT được vinh danh là "Sản phẩm tốt nhất" tại Animal Pharm Awards và hiện đang được sử dụng tại hơn 75 quốc gia(1). Vaxxitek® HVT+IBD+ILT không chỉ là một vaccine thông thường mà còn là giải pháp toàn diện mang lại nhiều lợi ích vượt trội giúp đơn giản hóa quy trình chủng ngừa, giảm thiểu stress cho đàn gia cầm, tối ưu hóa hiệu quả bảo vệ miễn dịch, loại bỏ nguy cơ phục hồi độc lực của virus vaccine.
CĂN NGUYÊN BỆNH VÀ ẢNH HƯỞNG KINH TẾ
Bệnh Marek (MD)
- Căn nguyên: Virus Gallid alphaherpesvirus 2 (GaHV-2) thuộc họ Herpesviridae
- Đặc điểm bệnh lý: Gây tăng sinh lympho ác tính ở dây thần kinh, cơ quan nội tạng và da. Biểu hiện điển hình bao gồm: liệt chân, cánh, khối u nội tạng (gan, lách), teo cơ quan bạch huyết. Suy giảm miễn dịch thứ phát do tổn thương tuyến ức và túi Fabricius.
- Tác động kinh tế: Thiệt hại ước tính 1-2 tỷ USD/năm toàn cầu do chết loại thải (20-30% đàn nhiễm), giảm 10-15% sản lượng trứng.(2)
Bệnh Gumboro (IBD)
- Căn nguyên: Infectious Bursal Disease virus (IBDV) thuộc họ Birnaviridae
- Cơ chế bệnh sinh: Phá hủy tế bào lympho B tại túi Fabricius (giai đoạn 3-6 tuần tuổi). Gây suy giảm miễn dịch kéo dài 2-4 tuần sau nhiễm. Chủng độc lực cao (vvIBDV) gây tổn thương xuất huyết túi bursa.
- Tác động kinh tế: Tỷ lệ chết 20-30% ở gà nhiễm chủng độc lực cao. Giảm 15-20% hiệu quả sử dụng thức ăn (FCR tăng 0.2-0.3 điểm)(3)
Bệnh Viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT)
- Căn nguyên: Gallid alphaherpesvirus 1 (GaHV-1)
- Bệnh lý: Tổn thương niêm mạc đường hô hấp trên (thanh quản, khí quản). Thể cấp tính gây xuất huyết điểm khí quản, tắc nghẽn do bệnh tích fibrin. Thể nhẹ gây viêm kết mạc, chảy nước mắt mũi.
- Đặc điểm dịch tễ: Virus có khả năng lưu tồn dai dẳng trong môi trường trại
Tác động kinh tế: Tỷ lệ chết 1-17%, giảm tỷ lệ đẻ 12%(4)
- Hạn chế của vaccine ILT sống hiện nay: Hai dòng vaccine sống ILT hiện hành mặc dù có mang lại những hiệu quả nhất định nhưng còn nhiều hạn chế và đều tồn tại những bất cập:
- Vaccine TCO (nuôi cấy trên tế bào mô): Ít gây phản ứng phụ nhưng hiệu quả bảo hộ không đủ trong điều kiện áp lực bệnh cao.
- Vaccine CEO (nuôi cấy trên tế bào phôi trứng): phòng bệnh hiệu quả nhưng gây phản ứng phụ nghiêm trọng, đòi hỏi sử dụng kháng sinh điều trị sau chủng từ đó ảnh hưởng một phần đến năng suất và chi phí chăn nuôi.(5)
- Nguy cơ tiềm ẩn: Virus vaccine sống có thể tồn tại dai dẳng trong môi trường, tiềm ẩn khả năng phục hồi độc lực hoặc tái tổ hợp với virus thực địa, dẫn đến nguy cơ bùng phát dịch bệnh mới.(6)
TỔNG QUAN VỀ VAXXITEK® HVT+IBD+ILT
Nền tảng công nghệ vector tiên tiến
Vaxxitek® HVT+IBD+ILT được phát triển trên nền tảng công nghệ vector đã được chứng minh hiệu quả. Vaccine tích hợp cơ chế bảo vệ 3 bệnh quan trọng và gây thiệt hại kinh tế lớn là bệnh Marek (MD), bệnh Gumboro (IBD) và bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT) chỉ trong một mũi tiêm duy nhất:
Virus nền tảng (Vector): Sử dụng virus Marek chủng HVT (Herpesvirus of Turkey) làm khung cấu trúc - 1 virus với bộ gen ổn định, đã được chứng minh an toàn rất cao và không gây phản ứng phụ cho gà:
Công nghệ 1 promoter IRES: Áp dụng công nghệ Internal Ribosome Entry Site (IRES) với một promoter (vùng khởi động) duy nhất, mang lại những ưu điểm vượt trội đó là tạo ra đáp ứng kháng thể đồng đều và ổn định từ đó nâng cao hiệu quả miễn dịch toàn diện (hình 1b) bởi:
- Cho phép 1 quá trình phiên mã nhưng tạo ra 2 protein VP2 (IBD) và gD (ILT) với tỷ lệ tương đương nhau. Không có sự cạnh tranh phiên mã. Không bị trì hoãn sản xuất kháng thể VP2 (IBD) và gD (ILT).
- 2 gen với 1 vị trí sẽ ít ảnh hưởng bất lợi tới HVT, nhân lên nhanh hơn so với chèn nhiều vị trí.
Các gen được chèn có tính chọn lọc cao (hình 1a):
- Gen VP2 từ virus IBD chủng Faragher 52/70 đóng vai trò quyết định trong bảo hộ phòng bệnh Gumboro, hiệu quả với cả các chủng virus IBD cường độc và biến chủng.
- Gen gD (glycoprotein D) từ virus ILT dựa trên nhiều nghiên cứu cho thấy khi chèn gen gD cho khả năng kích thích miễn dịch mạnh mẽ và bảo hộ hiệu quả nhất, không có nguy cơ phục hồi độc lực như các vaccine ILT sống.
Vaxxitek® HVT+IBD+ILT không chỉ là một bước tiến công nghệ mà còn là giải pháp toàn diện mở ra kỷ nguyên mới trong công tác phòng bệnh cho ngành chăn nuôi gia cầm hiện đại.
THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG
Thử nghiệm vaccine Vaxxitek®HVT+IBD+ ILT trên gà đẻ thương phẩm tại Pháp
1.Thiết kế thử nghiệm
Thử nghiệm được tiến hành trên 4 nhóm gà đẻ thương phẩm với các phác đồ chủng vaccine khác nhau được thể hiện ở bảng 1:
Bảng 1: Chương trình vaccine ILT trên 4 nhóm gà thử nghiệm
4 nhóm gà được gây bệnh thực nghiệm bằng chủng virus ILT (63140 KP8 EP1) thông qua qua đường khí quản lúc 9 tuần tuổi và 14 tuần tuổi.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Đánh giá tác động chương trình vaccine đến trọng lượng gà sau chủng ngừa.
- Đánh giá sự nhân lên sau chủng ngừa của CEO ILT sống một mình hoặc sau khi được chủng với Vaxxitek® HVT+IBD+ILT.
- Đánh giá trọng lượng gà sau công cường độc.
- Đánh giá sự bài thải của virus ILT của chủng virus được sử dụng công cường độc.
3. Kết quả nghiên cứu
- Ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thể : Kết quả đánh giá tác động các chương trình vaccine đến trọng lượng sau chủng ngừa được thể hiện ở hình 2a,b
- Nhóm 3 chỉ vaccine ILT CEO sống tại 42 ngày tuổi: Có sự sụt giảm trọng lượng cơ thể đáng kể so với nhóm 4 (đối chứng âm) trong 7-14 ngày (49-56 ngày tuổi) sau khi chủng vaccine. Sự hồi phục hoàn toàn về trọng lượng đạt được sau 21 ngày sau khi chủng vaccine ILT CEO sống từ thời điểm 63 ngày tuổi.
- Nhóm 1 chỉ chủng ngừa vaccine Vaxxitek® HVT+IBD+ILT và Nhóm 2 kết hợp tiêm Vaxxitek® HVT+IBD+ILT lúc 1 ngày tuổi và chủng vaccine ILT CEO sống lúc 42 ngày: Giảm trọng lượng nhẹ hơn đáng kể so với nhóm 3 và nhóm 4 (đối chứng âm).
Sự nhân lên của virus vaccine sau chủng ngừa: kết quả đánh giá sự nhân lên sau chủng ngừa của chủng virus vaccine ILT (CEO) sống một mình hoặc sau khi đã được chủng với Vaxxitek® HVT+IBD+ILT được thể hiện ở hình 3 và bảng 2.
- Nhóm 3 chỉ chủng một mình vaccine ILT CEO sống: Mức độ bài thải chủng virus vaccine sống ILT trong khí quản sau chủng ngừa 4 ngày (15/15) và 7 ngày (14/15) sau chủng ngừa chậm hơn nhóm 2.
- Nhóm 2 tiêm vHVT+IBD+ILT trước và sau đó chủng vaccine ILT CEO sống: mức độ sao chép virus vaccine ILT CEO trong khí quản thấp hơn có ý nghĩa thống kê sau chủng ngừa 4 ngày (14/15) và 7 ngày (5/14) điều này cho thấy tiêm chủng Vaxxitek® HVT+IBD+ILT lúc 1 ngày tuổi giúp loại bỏ virus vaccine ILT CEO sống nhanh hơn từ khí quản và giảm đáng kể phản ứng sau chủng ngừa vaccine ILT CEO sống.
Trọng lượng có thể sau công cường độc: kết quả đánh giá trọng lượng sau công cường độc tại 9 và 14 tuần tuổi được thể hiện ở hình 4a,b.
Trọng lượng sau công cường độc tuần thứ 9:
- Nhóm 2 kết hợp chủng Vaxxitek® HVT+IBD+ILT, sau đó chủng vaccine ILT CEO sống duy trì trọng lượng cơ thể tốt nhất sau công cường độc so với các nhóm đối chứng dương.
- Nhóm 3 chỉ chủng vaccine ILT CEO sống giảm trọng lượng nhẹ sau công cường độc. Nhóm 1 chỉ tiêm Vaxxitek® HVT+IBD+ILT trọng lượng trung bình sau thách thức. Nhóm 4 đối chứng dương giảm trọng lượng với mức khác biệt lớn sau công cường độc.
Trọng lượng sau công cường độc tuần thứ 14:
- Nhóm 2 kết hợp chủng Vaxxitek® HVT+IBD+ILT, sau đó chủng vaccine ILT CEO sống tiếp tục duy trì trọng lượng cơ thể cao nhất sau công cường độc so với 3 các nhóm đối chứng dương còn lại.
- Nhóm 1 chỉ tiêm Vaxxitek® HVT+IBD+ILT và nhóm 3 chỉ chủng vaccine ILT CEO sống: giảm trọng lượng nhẹ sau công cường độc.
- Nhóm 4 đối chứng dương: Giảm trọng lượng có mức khác biệt lớn sau công cường độc.
Khả năng giảm bài thải sau công cường độc: kết quả khả năng làm giảm bài thải sau công cường độc của virus ILT chủng dùng để công cường độc tại 9 và 14 tuần tuổi được thể hiện ở hình 5a,b.
Công cường độc ở tuần thứ 9:
- Nhóm 2 kết hợp chủng Vaxxitek® HVT+IBD+ILT, sau đó chủng vaccine ILT CEO sống cung cấp khả năng giảm bài thải virus là tốt nhất tỷ lệ dương tính với chủng virus ILT dùng để công cường độc sau công 4 ngày (0/15) và sau công 7 ngày (2/15) cho thấy sự khác biệt đáng kể với các nhóm còn lại.
- Nhóm 3 chỉ chủng vaccine ILT CEO sống một mình cung cấp khả năng giảm bài thải virus tốt nhưng không tốt bằng nhóm 2. Tỷ lệ dương tính với chủng virus ILT dùng để công cường độc sau công 4 ngày (3/15) và sau công 7 ngày (2/15).
- Nhóm 1 chỉ chủng Vaxxitek® HVT+IBD+ILT cung cấp khả năng giảm bài thải virus tương đối nhưng không tốt bằng nhóm 2 và nhóm 3. Tỷ lệ dương tính với chủng virus ILT dùng để công cường độc sau công 4 ngày (11/15) và sau công 7 ngày (10/15).
- Nhóm 4 đối chứng dương không ngăn chăn được sự bài thải virus.
Công cường độc ở tuần thứ 14:
- Nhóm 2 kết hợp chủng Vaxxitek® HVT+IBD+ILT, sau đó chủng vaccine ILT CEO sống cung cấp khả năng giảm bài thải virus là tốt nhất tỷ lệ dương tính với chủng virus ILT dùng để công cường độc sau công 4 ngày (3/15) và sau công 7 ngày (0/15) và cho thấy khác biệt đáng kể với các nhóm còn lại.
- Nhóm 3 chỉ chủng vaccine ILT CEO sống một mình cung cấp khả năng giảm bài thải virus khá tốt . Tỷ lệ dương tính với chủng virus ILT dùng để công cường độc sau công 4 ngày (5/15) và sau công 7 ngày (5/15).
- Nhóm 1 chỉ chủng Vaxxitek® HVT+IBD+ILT cung cấp khả năng giảm bài thải virus một phần. Tỷ lệ dương tính với chủng virus ILT dùng để công cường độc sau công 4 ngày (14/15) và sau công 7 ngày (14/15).
- Nhóm 4 đối chứng dương không ngăn chăn được sự bài thải virus.
4. Kết luận thử nghiệm
Tác động của vaccine sống sau chủng ngừa:
- Vaccine ILT CEO sống khi sử dụng đơn lẻ một mình (nhóm 3) gây ra phản ứng bất lợi sau chủng ngừa đáng kể, biểu hiện qua sự sụt giảm trọng lượng cơ thể trong 7-14 ngày sau chủng ngừa.
- Tiêm chủng vHVT+IBD+ILT trước đó (nhóm 2) giúp giảm đáng kể phản ứng bất lợi sau chủng của vaccine ILT CEO sống, giúp duy trì trọng lượng cơ thể tốt hơn.
Sự nhân lên của virus vaccine sau chủng ngừa:
- Tiêm chủng vHVT+IBD+ILT trước đó làm giảm sự nhân lên và bài thải của virus vaccine ILT CEO sống trong khí quản.
- Nhóm 2 (kết hợp) có khả năng giảm áp lực do virus vaccine nhanh hơn so với nhóm 3 (chỉ có vaccine ILT CEO sống).
Trọng lượng cơ thể sau công cường độc:
- Nhóm 2 kết hợp Vaxxitek® HVT+IBD+ILT và vaccine ILT CEO sống duy trì trọng lượng cơ thể tốt nhất sau công cường độc ở cả tuần 9 và tuần 14.
Khả năng giảm bài thải virus ILT sau công cường độc:
- Phác đồ kết hợp nhóm 2 kết hợp Vaxxitek® HVT+IBD+ILT và vaccine ILT CEO sống mang lại khả năng bảo vệ tổng thể tốt nhất ở cả công cường độc tuần 9 và tuần 14.
- Phác đồ kết hợp đặc biệt làm giảm mạnh sự thải virus sau công cường độc, giảm nguy cơ lây lan trong đàn.
- Cả Vaxxitek® HVT+IBD+ILT đơn lẻ (nhóm 1) và ILT CEO sống đơn lẻ (nhóm 3) đều cung cấp khả năng bảo vệ, nhưng không tốt bằng phác đồ kết hợp (nhóm 2).
Thử nghiệm cho thấy phác đồ kết hợp vaccine VAXXITEK® HVT+IBD+ILT (tại 1 ngày tuổi) với vaccine ILT CEO sống (tại 42 ngày tuổi) mang lại hiệu quả tối ưu về nhiều mặt: Không gây phản ứng bất lợi sau chủng ngừa, giảm phản ứng bất lợi sau khi chủng vaccine ILT sống, giảm áp lực nhân lên của virus ILT vaccine sống , tăng cường khả năng bảo vệ chống lại áp lực bệnh cao, và duy trì trọng lượng cơ thể tốt nhất sau thách thức. Phác đồ kết hợp này cũng giúp giảm đáng kể sự bài thải virus sau thách thức, góp phần giảm nguy cơ lây lan.
TÓM TẮT
Vaxxitek® HVT+IBD+ILT vaccine công nghệ cao từ của tập đoàn Boehringer Ingelheim - phân phối bởi Olmix Asialand tại thị trường Việt Nam - được kiểm chứng toàn diện qua các đánh giá lâm sàng, mang lại hiệu quả vượt trội trên ba khía cạnh cốt lõi:
An toàn vượt trội:
- Không gây tổn thương cơ quan miễn dịch.
- Không ghi nhận phản ứng phụ, giúp giảm phản ứng bất lợi của vaccine ILT sống
- Bảo toàn chức năng của Bursa Fabricius
Hiệu quả bảo hộ mạnh mẽ:
- Phòng ngừa hiệu quả ba bệnh nguy hiểm: Marek (MD), Gumboro (IBD), Viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT)
- Kích thích đáp ứng miễn dịch bền vững
- Giảm bài thải mầm bệnh ra môi trường
Bảo toàn năng suất chăn nuôi:
- Duy trì tăng trọng ổn định
- Cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR)
- Giảm chi phí sản xuất tổng thể
Vaxxitek® HVT+IBD+ILT không chỉ là một vaccine, mà còn là giải pháp toàn diện giúp các trang trại gia cầm: Đơn giản hóa chương trình phòng bệnh, nâng cao hiệu quả chăn nuôi, đảm bảo an toàn sinh học và môi trường
Tài liệu tham khảo
1. BI Launches Vaccine to Protect Poultry | Boehringer Ingelheim US
2. Morrow, C., and F. Fehler. 2004. Marek’s disease: a worldwide problem. In: Marek’s Disease: An Evolving Problem. F. Davison and V. Nair, eds. Elsevier Academic Press, London. 49–61.
3. The control, impact and prevalence of Gumboro disease in poultry | The Poultry Site
4. Aras Z, Yavuz O, Sanioğlu Gölen G. Occurrence of infectious laryngotracheitis outbreaks in commercial layer hens detected by ELISA. J Immunoassay Immunochem. 2018;39(2):190-195. doi: 10.1080/15321819.2018.1428991. Epub 2018 Mar 13. PMID: 29424631
5. Groves, P. J. and Sharpe, S. M. and Williamson, S. and Gao, Y. S. and Freitas Gerber, P. and Walkden-Brown, S. W., 20203402486, English, Conference paper, Turkey, 9786058068629, Ankara, 5th International Poultry Meat Congress, Antalya, Turkey, 24-28 April 2019. Proceedings, (132–137), Beyaz Et Sanayicileri ve Damızlıkçıları Birliği Derneği (BESD-BİR), vaccination against ILT, field conditions and challenges for success in broilers., (2019)
6. Perez-Contreras, A.; Barboza-Solis, C.; Najimudeen, S.M.; Checkley, S.; Meer, F.v.d.; Joseph, T.; King, R.; Ravi, M.; Peters, D.; Fonseca, K.; et al. Pathogenic and Transmission Potential of Wildtype and Chicken Embryo Origin (CEO) vaccine Revertant Infectious Laryngotracheitis Virus. Viruses 2021, 13, 541. https://doi.org/10.3390/v13040541